Tin mới
1
Nữ thần tượng bị đuổi khỏi nhóm nhạc
Chu Lực Duy không còn là thành viên của nhóm BEJ48. Quyết định loại bỏ được đưa ra chỉ sau một ngày nữ ca sĩ vướng bê bối quay lén, phát tán clip nhạy cảm của bạn thân.
5
PSY không già đi ở tuổi 45
10 năm sau thành công của "Gangnam Style", PSY phát hành nhiều bài hát mới. Tuy nhiên, rapper chưa khi nào đạt được thứ hạng cao như ca khúc ra mắt năm 2012.
Ảnh
Ca sĩ có thẻ đen quyền lực
Theo SCMP, để sở hữu thẻ đen nhiều đặc quyền, các ngôi sao Kpop phải có trong tay khối tài sản khoảng 16 triệu USD, chi tiêu trung bình 120.000 USD/năm.

Nữ thần tượng bị đuổi khỏi nhóm nhạc

Chu Lực Duy không còn là thành viên của nhóm BEJ48. Quyết định loại bỏ được đưa ra chỉ sau một ngày nữ ca sĩ vướng bê bối quay lén, phát tán clip nhạy cảm của bạn thân.

Cách Shakira vượt qua nỗi đau chia tay Pique

Đăng bởi Tôi Là Sao | 2022-06-12 01:06
Trước khi chính thức thông báo chia tay Pique, Shakira tung ca khúc “Te felicito” như một cách để tâm sự và chia sẻ với khán giả về nỗi đau bị lừa dối.

Cuối tháng 4/2022, Shakira bất ngờ tung ra Te felicito - ca khúc tiếng Tây Ban Nha đầu tiên của cô sau hơn hai năm, đồng thời là đĩa đơn mở màn cho album phòng thu sắp ra mắt. Trong bài hát, nữ ca sĩ gốc Colombia úp mở về một mối quan hệ rạn nứt khi người cô yêu có biểu hiện lừa dối.

Hơn một tháng sau, ngôi sao tiếp tục khiến người hâm mộ bàng hoàng khi tuyên bố đường ai nấy đi với cầu thủ Gerard Pique, chấm dứt cuộc tình dài 12 năm từng hao tốn biết bao giấy mực của báo giới.

Điều đó đồng nghĩa những gì cô hát trong Te felicito không phải là lời dự báo, mà chỉ là kết quả của những chuỗi cảm xúc giấu kín suốt một thời gian dài.

Thông điệp dành cho Pique

Khi mối quan hệ giữa Shakira và Gerard Pique đặt dấu chấm hết, nhiều khán giả bày tỏ sự tiếc nuối với mối tình chị em chênh lệch 10 năm tuổi. Bởi lẽ trong suốt sự nghiệp, Shakira từng viết rất nhiều ca khúc dành riêng cho người tình, thậm chí còn cover những bài hát cũ để tặng Pique.


Shakira từng sáng tác nhiều ca khúc để tặng người yêu Gerard Pique.

Điển hình là sáng tác Me enamoré (I Fell in Love) – trích từ album El Dorado (2017) – kể lại chuyện tình của bộ đôi khi cô tình cờ gặp anh trên trường quay MV cho ca khúc Waka Waka (This Time For Africa) năm 2010.

Hay ca khúc 23 ám chỉ tuổi tác không trở thành khoảng cách cho tình yêu. Cô viết: “Vài năm trước em đã rất cô đơn / Từng nghĩ rằng Chúa chẳng hề tồn tại / Nhưng rồi anh nhìn em bằng đôi mắt xanh / Và niềm tin ấy trở thành cát bụi”.

Điều đáng chú ý là Shakira và Pique đều có chung ngày sinh nhật (2/2). Khi hai người gặp nhau, anh vừa tròn 23 còn cô đã bước sang tuổi 33. Thế nên, ngôi sao quyết định chọn con số đặc biệt ấy để đặt tên cho bài hát.

Chưa kể, giọng ca còn nhiều lần trực tiếp lẫn gián tiếp nhắc đến người tình trong loạt ca khúc như La bicicleta (The Bicycle), Loca, Broken Record,… Tất cả vẽ nên những hình ảnh tuyệt đẹp về chuyện tình trong mơ của nhiều người.

Đến khi cuộc tình tan vỡ, trái tim Shakira không còn đủ vị tha để dành cho Pique những lời ngọt ngào. Đổi lại trong Te felicito, cô đau đớn và liên tục buông lời chua xót gửi đến người cũ.

Sáng tác được phối theo phong cách electro-pop hiện đại kết hợp reggaeton. Âm nhạc tươi trẻ và có phần nhẹ nhàng hơn so với phong cách quen thuộc của Shakira. Song, ca từ thì lại nặng nề và châm biếm sâu cay.

Dịch sang tiếng Anh, nhan đề bài hát nghĩa là “I congratulate you” (Em chúc mừng anh). Song, phần lời viết ra không nhằm mục đích ca tụng mà chỉ để vạch trần bộ mặt thật của tình cũ. Cô thẳng thừng gọi anh là “kẻ hai mặt”, khen anh giỏi diễn xuất, chúc mừng anh vì đã hoàn thành vai diễn thành công đến mức khiến cô không hề mảy may nghi ngờ.

Qua bài hát, Shakira cũng không ngần ngại bộc lộ những cảm xúc tiêu cực khi thất tình. Giọng ca thú nhận đã khóc đến đỏ mắt, trái tim vỡ thành từng mảnh chỉ để làm vừa lòng nửa kia. Cô cũng cho rằng mình đã mù quáng khi bỏ qua những lời cảnh báo chỉ vì quá yêu anh.

Bước ra khỏi cuộc tình với Pique, Shakira lao vào công việc như một cách để quên đi nỗi buồn. Sắp tới, cô sẽ tập trung thời gian cho vai trò giám đốc điều hành kiêm nhà sáng tạo của show thực tế Dancing with Myself. Ngoài ra, nữ ca sĩ cũng sẽ phát hành album thứ 12 với chất nhạc hoàn toàn mới, thiên về electronic, urban và rock, hứa hẹn nhiều sự bùng nổ trong tương lai.

Nữ hoàng nhạc Latin

Sinh năm 1977, Shakira là một trong số ít ca sĩ có thể hát tốt tiếng Tây Ban Nha lẫn tiếng Anh, đồng thời thành công ở cả hai thị trường âm nhạc lớn nhất toàn cầu. Trước khi Britney Spears được tôn vinh như là “công chúa nhạc pop”, cô đã nổi như cồn với bốn album bỏ túi.


Shakira là một trong số ít ca sĩ hát nhạc tiếng Anh lẫn Tây Ban Nha thành công.

Từ năm 14 tuổi, Shakira đã phát hành album đầu tay nhưng phải đến năm 18 tuổi, cô mới gây được tiếng vang khi giới thiệu album phòng thu thứ ba Pies Descalzos (1995). Cả 6 đĩa đơn trích từ album đều đạt thành công thương mại, trong đó có bài Estoy Aquí vươn lên giành vị trí thứ hai tại bảng xếp hạng Các ca khúc Latin của Billboard.

Điểm đặc biệt là tất cả ca khúc trong album đều do Shakira đồng sáng tác. Dù tuổi đời còn trẻ, ngòi bút lẫn phong cách âm nhạc của cô được giới phê bình khen ngợi. Ca sĩ cho thấy khả năng kiểm soát giọng hát, cách xử lý nhịp điệu rock & roll và dấu ấn không trộn lẫn khi thể hiện dòng nhạc đậm chất Latin.

Sau hai năm rong ruổi khắp nơi để quảng bá Pies Descalzos, Shakira tiếp tục giới thiệu album thứ tư Dónde Están los Ladrones? (1999) đúng lúc cô vừa tròn 20 tuổi. Sản phẩm còn thành công hơn cả đĩa nhạc trước đó khi bán được hàng triệu bản, đồng thời mang về cho cô đề cử Grammy đầu tiên trong sự nghiệp.

Đến năm 2001, nữ ca sĩ quyết định tấn công thị trường Mỹ bằng album tiếng Anh đầu tiên Laundry Service (2001). Trong đó, ca khúc Whenever, Wherever biến cô trở thành hiện tượng toàn cầu chỉ trong một đêm, thu hút lượng fan đông đảo.

Tính đến nay, Shakira đã phát hành được 11 album, trong đó có 4 album tiếng Anh và 7 album tiếng Tây Ban Nha. Loạt hit đình đám như Hips Don’t Lie, She Wolf, Beautiful Liar,… khẳng định vị trí “nữ hoàng nhạc Latin” mà mọi người xưng tụng là hoàn toàn xứng đáng.


Ca sĩ sớm gặt hái thành công với dòng nhạc Latin trước khi tấn công thị trường tiếng Anh.

Thành công Sharkia có được đều không phải ngẫu nhiên, mà đó là kết quả của quá trình rèn luyện từ nhỏ. Năm tám tuổi, ca sĩ đã tập tành sáng tác và đến năm 11 tuổi, cô bắt đầu học guitar. Đến khi quyết định lấn sân sang hát tiếng Anh, ngôi sao tự học cách viết lời bằng ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ để chinh phục quốc tế.

Nhắc đến Shakira, khán giả có thể nghĩ ngay đến những ca khúc sôi động và phong cách trình diễn hoang dã. Trên sân khấu, cô thu hút khán giả bởi thân hình quyến rũ và vũ đạo bốc lửa. Âm nhạc của cô thì không có giới hạn.

Ca sĩ liên tục thử nghiệm nhiều dòng nhạc khác nhau, pha trộn đủ thể loại từ Latin, nhạc Trung Đông, Argentina đến Merengue của Cộng hòa Dominica. Tất cả tạo nên cá tính âm nhạc riêng biệt không trộn lẫn.

Ngôi sao âm nhạc sân cỏ

Không chỉ yêu cầu thủ bóng đá ngoài đời, Shakira cũng nhiều lần bén duyên sân cỏ trong âm nhạc. Năm 2006, cô vinh dự được chọn là người biểu diễn trong đêm bế mạc World Cup 2006 tổ chức tại Berlin, Đức.

Để chuẩn bị cho sự kiện trọng đại này, ngôi sao chọn ca khúc Hips Don’t Lie - hát cùng rapper người Haiti Wyclef Jean - nhưng nhờ nhà sản xuất RedOne phối lại để trở nên bắt tai hơn. Kết quả là màn trình diễn của Shakira trở thành dấu ấn khó quên của mùa giải World Cup năm đó.

Ca sĩ không chỉ lôi cuốn khán giả với giọng hát nội lực mà còn làm nổ tung sân khấu bằng những vũ điệu hoang dại. Bài hát có tiết tấu sôi động và dồn dập, gây ấn tượng bởi tiếng kèn trumpet và tiếng trống bập bùng. Âm nhạc pha trộn thể loại Reggaeton và Salsa nhằm tái tạo không khí nóng bỏng ngày hè lẫn cảm giác phấn khích của các tuyển thủ trên sân đấu.

Thời điểm ra mắt, ca khúc leo thẳng lên vị trí đầu bảng xếp hạng Billboard và hàng loạt quốc gia, lãnh thổ khác. Đến nay, Hips Don’t Lie được xem là ca khúc thành công nhất trong sự nghiệp Shakira, đồng thời lọt vào danh sách những đĩa đơn bán chạy nhất làng nhạc thế giới.


Ngôi sao gốc Colombia có duyên với các ca khúc World Cup.

Hai năm sau, giọng ca Colombia tiếp tục được chọn là người trình bày ca khúc chính thức của World Cup 2010 tổ chức tại Nam Phi. Khi thông tin được công bố, cô trở thành tiêu điểm gây tranh cãi vì người hát không phải là dân bản xứ.

Thế nhưng, thành công của Waka Waka (This Time For Africa) đã hoàn toàn thuyết phục những ai từng hoài nghi Shakira. Bài hát làm rung chuyển các bảng xếp hạng trên thế giới với hơn 10 triệu bản tẩu tán toàn cầu, trở thành bài hát World Cup ăn khách nhất mọi thời.

Bản phối do Shakira sản xuất cùng John Hill, khéo léo kết hợp nhạc cụ truyền thống Châu Phi với nhịp điệu đặc trưng của Colombia trên nền nhạc mang âm hưởng Soca. Ca từ là lời động viên dành cho những tuyển thủ bộ môn túc cầu, với những câu hát chứa đầy sức nặng như: “Khi vấp ngã hãy đứng dậy… Hãy tiến lên và cảm nhận sự trông chờ ấy / Đây chính là khoảnh khắc của bạn”.

Nữ ca sĩ lập cú hattrick với La La La (Brazil 2014) – một trong những bài chủ đề của World Cup 2014 diễn ra tại Brazil. Dù không tạo hiệu ứng mạnh bằng hai bài tiền nhiệm, ca khúc vẫn có thành tích khá tốt tại nhiều bảng xếp hạng trên thế giới.

Trên BBC, Shakira từng chia sẻ cô “có mối liên hệ phức tạp với bóng đá”. Ba lần được hát tại giải đấu bóng đá lớn nhất hành tinh giúp ngôi sao có thêm biệt danh “nữ ca sĩ World Cup”. Điểm chung của ba ca khúc là đều lột tả trọn vẹn phong cách âm nhạc của Shakira.

Đó là thứ âm nhạc tràn đầy năng lượng tích cực, khiến người nghe bỏ quên hết mọi muộn phiền để chìm đắm vào không khí rạo rực của sân bóng.

Theo Zing.vn

Xem tiếp :

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục xin gửi về:
bientap@2isao.com

loading...


Viết bình luận